Báo cáo thực tập quản trị kinh doanh của chuỗi cửa hàng Foodcomart

Tailieumau.net xin chia sẻ với các bạn bài báo cáo thc tp qun tr kinh doanh gii pháp nâng cao cht lượng dch v ca chui ca hàng Foodcomart trên đa bàn Tp.H Chí Minh để làm mu báo cáo thc tp tt nghip.

Trích dn li nói đu đ các bn tham kho:

SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Kinh nghiệm của các hãng bán lẻ lớn trên thế giới đã cho thấy, mức thu nhập bình quân đầu người là một chỉ tiêu hết sức quan trọng để quyết định có kinh doanh cửa hàng, siêu thị ở các khu vực đó hay không. Theo những tiêu chuẩn quốc tế thì mức thu nhập bình quân đầu người phải từ 1000 USD/năm đối với một siêu thị và 2000 USD/năm đối với một đại siêu thị. Ở Việt Nam hiện nay nếu tính theo sức mua ngang giá thì có thể phát triển kinh doanh siêu thị, cửa hàng bán lẻ rộng khắp các thành phố và đô thị lớn và vừa, các trung tâm công nghiệp trong cả nước.

Mức độ đô thị hóa và lối sống công nghiệp: siêu thị, các cửa hàng bán lẻ hiện đại gắn liền với quá trình đô thị hóa, là kết quả tất yếu của lối sống văn minh. Với dân số 90 triệu dân, Việt Nam là một thị trường có sức tiêu thị hàng hóa rất mạnh. Là một quốc gia đang phát triển và đang tiến hành CNH-HĐH trên mọi lĩnh vực, Việt Nam sẽ xây dựng hàng loạt đô thị lớn để thích ứng với tốc độ phát triển chung của thế giới. Xu hướng này sẽ phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới và ảnh hưởng sâu sắc đến lối sống, thói quen tiêu dùng của đại bộ phận người dân… Sẽ xuất hiện những siêu thị quy mô lớn, kinh doanh chuyên nghiệp hơn và đó sẽ là những cửa hàng phổ biến trong tương lai.

          Thu nhập và đô thị hóa sẽ ảnh hưởng đến xu hướng tiêu dùng tương lai của người Việt Nam. Trước ảnh hưởng của lối sống công nghiệp và thu nhập ngày càng được cải thiện, người tiêu dùng tương lai ở Việt Nam sẽ phản ứng tích cực và thuận lợi hơn với loại hình kinh doanh siêu thị, các cửa hàng bán lẻ.

So với loại hình bán lẻ truyền thống thì loại hình kinh doanh siêu thị, cửa hàng bán lẻ rõ ràng có nhiều ưu điểm hơn nhờ sự tiện lợi, lịch sự văn minh cùng với việc nguồn hàng hóa đảm bảo xuất xứ rõ ràng, đảm bảo chất lượng. Tuy nhiên cũng sẽ gặp không ít khó khăn do thói quen, tiện lợi thái quá của loại hình họp chợ, chợ cóc của người dân Việt Nam.

Xu hướng quốc tế hóa ngành bán lẻ ở Châu Á: các nước láng giềng trong khu vực như Thái Lan, Hồng Kông, Singapore…đã đi trước Việt Nam trong lãnh vực siêu thị, cửa hàng bán lẻ từ cách đây khá lâu. Ngày nay, hệ thống các siêu thị, cửa hàng bán lẻ ở nước ta đã phát triển đến trình độ tương đối cao, diện tích lớn và phương thức kinh doanh chuyên nghiệp. Đạt được điều này là nhờ xu hướng quốc tế hóa diễn ra mạnh mẽ và liên tục của các tập đoàn kinh doanh nước ngoài vào khu vực này. Chính những siêu thị và đại siêu thị đầu tiên của họ ở Châu Á đã mở ra cho các nước này một kỷ nguyên mới trong ngành hàng bán lẻ – kỷ nguyên của thương nghiệp hiện đại.

Châu Á được lựa chọn là địa điểm đầu tư chiến lược của các hãng bán lẻ lớn do có dân số khá đông, mức tăng trưởng kinh tế lớn và là khu vực kinh tế năng động nhất trong thời gian tới. Nằm trong khu vực có tăng trưởng cao, Việt Nam cũng đang là một thị trường khá hứa hẹn với các hãng bán lẻ phương Tây mặc dù chưa hội đủ các yếu tố hấp dẫn họ. Khuyến khích FDI trong lĩnh vực kinh doanh siêu thị, cửa hàng bán lẻ cho phép chúng ta học được nhiều kinh nghiệm quản lý quý báu trong lĩnh vực này, đồng thời đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa nội địa.

Trên bước đường hội nhập, nền kinh tế nước ta đang đứng trước sức ép cạnh tranh rất lớn từ các công ty nước ngoài. Đặc biệt, hiện nay một số hệ thống cửa hàng bán lẻ, siêu thị, nhà phân phối lớn trên thế giới đang từng bước thâm nhập thị trường bán lẻ Việt Nam. Do đó, những cửa hàng, siêu thị trong nước đang đứng trước rất nhiều khó khăn, thử thách trong công việc kinh doanh.

Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố đông dân, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục quan trọng của Việt Nam. Mặt khác, đời sống kinh tế của người dân Thành phố ngày càng đi lên nên vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm ngày càng được coi trọng hơn. Do những đặc điểm trên mà thành phố luôn là thị trường hấp dẫn cho các nhà dịch vụ bán lẻ thực phẩm.

Bên cạnh đó, theo kinh nghiệm quan sát của tác giả, nền kinh tế thế giới trong thời gian vừa qua tồn tại những khủng hoảng, giảm phát, lạm phát…. ở các lĩnh vực bất động sản, dầu hỏa, tài chính, ngân hàng… riêng ngành công nghiệp bán lẻ thực phẩm vẫn phát triển tốt và ở hoàn cảnh nào thì con người vẫn phải ăn, uống.

Hiểu được vấn đề này, Công ty TNHH Lương thực thành phố Hồ Chí Minh sớm cho ra đời chuỗi hệ thống cửa hàng bán lẻ thực phẩm có tên gọi FOODCOMART. Với thế mạnh là nhà cung cấp lương thực thực phẩm rõ nguồn gốc, giá cả hợp lý, nhà phân phối với hệ thống bao phủ cả miền Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Cho nên chỉ trong 3 năm trở lại đây Foodcomart đã mở rộng chuỗi cửa hàng bán lẻ của mình là 43 cửa hàng trên địa bàn Thành phố.

Tuy nhiên, để chuỗi cửa hàng Foodcomart tồn tại bền vững và ngày càng phát triển mạnh mẽ, hệ thống cửa hàng vươn xa bao khắp Việt Nam và mở rộng ra khỏi biên giới. Sản phẩm mang thương hiệu Foodcomart ngày càng đi vào lòng người thì cửa hàng phải làm sao để năng lực cạnh tranh của mình ngày càng mạnh.

Ngày nay, chất lượng và an toàn thực phẩm luôn là mối quan tâm của người tiêu dùng và các cơ quan chức năng. Vấn đề quản lý rủi ro về chất lượng, sức khỏe, an toàn, trách nhiệm xã hội và môi trường… ngày càng trở nên quan trọng đối với các công ty hoạt động trong chuỗi cung ứng thực phẩm.

Trong bối cảnh áp lực ngày càng gia tăng như đã nêu ở trên, vấn đề chính yếu cần quan tâm  là cải tiến chất lượng sản phẩm, dịch vụ và quản lý tốt hơn hoạt động của doanh nghiệp. Làm tốt điều này sẽ giúp cho doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranh, giữ vững giá trị thương hiệu và nâng cao hình ảnh của công ty.

Mặt khác, Việt Nam đã gia nhập WTO thì hệ thống Foodcomart của Công ty Lương thực Thành phố Hồ Chí Minh phải cạnh tranh về thuế, chất lượng sản phẩm, giá cả, chất lượng cung ứng dịch vụ… ngày càng ráo riết với các tập đoàn phân phối lớn ngay cả bên trong Việt Nam như: Co-op Food, Vissan, Citimart, Vinatex-mart, Hapro, Fivimart… và từ các quốc gia phát triển bên ngoài như Metro Cash & Carry, Wal-mart, Mc Donald’s, Lotte …

Foodcomart của Công ty lương thực Thành phố Hồ Chí Minh mặc dù không phải là một trong 6 thương hiệu cửa hàng (chuỗi cửa hàng) bán lẻ được nhận biết nhiều nhất của Việt Nam theo như nghiên cứu khảo sát năm 2012 của website http://bfinance.vn (xem hình), nhưng Foodcomart là nhãn hiệu đầy tiềm năng trong tương lai có thể đứng vào hàng ngũ trên. Foodcomart không muốn mất đi thị phần to lớn ngay trên lãnh địa của mình, và càng không muốn thị phần đó rơi vào tay các tập đoàn có lịch sử phát triển lâu đời, có tiềm lực kinh tế hùng mạnh, có hệ thống trải rộng khắp 100 quốc gia trên Thế giới và có nền tảng cung ứng dịch vụ tin cậy và hoàn thiện…

Hình1: Sáu thương hiệu cửa hàng (chuỗi cửa hàng) bán lẻ được nhận biết nhiều nhất của Việt Nam

Trên cơ sở đó tác giả chọn đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ của chuỗi cửa hàng Foodcomart trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” với mong muốn một phần nào đó giúp Foodcomart phục vụ tốt cho cộng đồng về dịch vụ bán lẻ trong tương lai.

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Đề tài được thực hiện nhằm mục tiêu khảo sát, đánh giá của khách hàng về chất lượng dịch vụ của chuỗi cửa hàng Foodcomart tại thành phố Hồ Chí Minh thông qua mức độ thỏa mãn, hài lòng của khách hàng.

Để đạt được mục tiêu cơ bản trên, đề tài sẽ hướng vào nghiên cứu cụ thể các vấn đề sau:

– Kiểm định các thành phần của thang đo chất lượng dịch vụ cửa hàng bán lẻ.

– Nghiên cứu thái độ khách hàng với chất lượng dịch vụ của hệ thống cửa hàng tiện íchFoodcomart tại Thành phố Hồ Chí Minh để xác định các yếu tố hiện nay mang lại chất lượng dịch vụ trong ngành kinh doanh bán lẻ tại Tp.HCM.

– Kiểm định mối quan hệ giữa các thành phần của thang đo chất lượng dịch vụ của cửa hàng bán lẻ với mức độ thỏa mãn và hài lòng của khách hàng.

– Đưa ra đề xuất nhằm cải thiện, nâng cao chất lượng dịch vụ để tăng mức độ thỏa mãn, hài lòng của khách hàng.

PHƯƠNG PHÁP VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài này là đề tài nghiên cứu định tính kết hợp với nghiên cứu định lượng

Đi từ việc điều tra, thu thập, phân tích hiện trạng đến việc xử lý tổng hợp tư liệu để đi đến kết quả.

Phương pháp thu thập thông tin:

  • Thu thập các tài liệu trong và ngoài nước về lịch sử, đặc điểm, hiện trạng hệ thống bán lẻ nói chung và bán lẻ thực phẩm nói riêng.
  • Thu thập thông tin hệ thống bán lẻ thực phẩm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.

Phương pháp điều tra thực địa:

Tham quan, tìm hiểu mua sắm tại một số cửa hàng bán lẻ thực phẩm trên địa bàn của các nhà phân phối: Co.op Food, BigC, Lotte mart, Maximark, Foodcomart.

Phương pháp bảng hỏi:

Khảo sát điều tra bằng phiếu điều tra về thói quen mua hàng của người dân thành phố Hồ Chí Minh đối với mặt hàng thực phẩm tại các cửa hàng bán lẻ của hệ thống.

Phương pháp phỏng vấn:

Phỏng vấn sâu một số khách hàng, nhân viên cửa hàng và cửa hàng trưởng từ đókhai thác tiếp các khía cạnh về kinh nghiệm hiểu biết, các ý kiến cần đóng góp cho việc nâng cao lợi thế cạnh tranh của cửa hàng…

Phương pháp chuyên gia:

Tham vấn từ các chuyên gia phân phối bán lẻ thực phẩm nhằm hoàn thiện các giải pháp nâng cao lợi thế cạnh tranh đề xuất.

Phương pháp xử lý số liệu thống kê

Sử dụng trong quá trình thu thập, xử lý các số liệu từ phiếu khảo sát.

Phạm vi nghiên cứu

Lĩnh vực nghiên cứu: Nghiên cứu, đánh giá chất lượng dịch vụ tại chuỗi cửa hàng bán lẻ thực phẩm (Foodcomart) – thuộc Công ty TNHH Lương thực Tp.HCM

Vùng nghiên cứu: Địa bàn Tp.HCM

GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU

Kết quả cuộc khảo sát có ý nghĩa cấp thiết và thực tế. Đề tài là nghiên cứu định lượng dựa trên cơ sở nghiên cứu định tính về chất lượng dịch vụ từ trước đây nên dữ liệu có thể sẽ có nhiều biến động không như mong muốn. Vì thế đề tài có một số hạn chế sau:

Thứ nhất, bảng câu hỏi khá dài và nhiều chữ, cần nhiều thời gian để hoàn thành

Thứ hai, đáp viên có thể trả lời qua loa ảnh hưởng đến chất lượng dữ liệu

Cuối cùng, hạn chế về tài chính.

ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Đề tài có ý nghĩa trong thực tiễn về nghiên cứu phát triển ngành công nghiệp bán lẻ tại Việt Nam được thể hiện qua các quan điểm sau:

  • Kết quả giúp cho các nhà quản lý thấy được hiện trạng về chất lượng dịch vụ chuỗi cửa hàng Foodcomart trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, là cơ sở để cải tiến và nâng cao chất lượng dịch vụ.
  • Góp phần cung cấp thông tin về các yếu tố đo lường chất lượng dịch vụ mà khách hàng mong muốn nhận được từ phía các cửa hàng bán lẻ thực phẩm.
  • Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu còn đưa ra bộ thang đo “Đánh giá chất lượng dịch vụ cửa hàng bán lẻ thực phẩm” từ phía khách hàng cho thị trường Việt Nam. Bộ thang đo này sẽ được hiệu chỉnh, bổ sung và kiểm định phù hợp với tình hình ở Việt Nam trong các nghiên cứu tiếp theo.

TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Có thể nói ngành công nghiệp bán lẻ chưa khi nào phải cạnh tranh khốc liệt mang tính toàn cầu như hiện nay. Với mục đích hướng tới dịch vụ bán lẻ thực phẩm ngày càng hoàn thiện, từ lâu các nhà kinh tế – marketing trên Thế Giới và Việt Nam đã có những nghiên cứu đưa ra các giải pháp nhằm góp phần nâng cao tính cạnh tranh thông qua việc tìm hiểu và đo lường mức độ hài lòng của khách hàng.

Ngày nay, phần lớn công ty bán lẻ luôn quan tâm vận dụng những nghiên cứu này như một phần trong chiến lược phát triển của mình là giữ chân khách hàng cũ, thu phục khách hàng mới, mở rộng thị trường, khẳng định thương hiệu…

Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Ngành bán lẻ trên Thế giới ra đời từ rất lâu, để có một ngành công nghiệp bán lẻ năng động như hiện nay rất nhiều nhà kinh tế học, doanh nghiệp, doanh nhân… đã trải nghiệm để nghiên cứu các học thuyết, các công cụ… nhằm nâng cao tính cạnh tranh, đo lường sự hài lòng của khách hàng. Ví dụ các thang đo Retail Service Quality Scale gọi tắt là RSQS (Dabhokar & ctg, 1996) được điều chỉnh và phát triển từ thang đo SERVQUAL; thang đo SERVQUAL (Parasuraman  ctg 1985, 1988), Mô hình chất lượng dịch vụ điều chỉnh gọi tắt là mô hình MLH (viết tắt của ba tác giả Mehta-Lalwani-Han)…

Bằng sự tổng hợp nhiều công cụ, nhiều số liệu thống kê mà người ta xác định được trong năm 2012 vừa qua:

Mỹ là nhà bán lẻ có mức độ toàn cầu nhất.

Châu Âu là nơi các nhà đầu tư đang nhắm đến.

Trung Quốc là nhà bán lẻ năng động nhất.

Pháp là quốc gia có khả năng kinh doanh trực tuyến tốt nhất.

Thời trang và thương hiệu đắt tiền là sản phẩm mang tính toàn cầu nhất.

Để luôn theo kịp sự thay đổi của trào lưu, sở thích của khách hàng và tốc độ phát triển của thương mại điện tử, sẽ còn rất nhiều thang đo khác, công cụ khác ra đời để đo lường, tính toán nhằm giúp cho các nhà cung cấp dịch vụ luôn làm hài lòng khách hàng sử dụng dịch vụ của mình.

Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

Tại Việt Nam, hiện nay chúng ta có Tiêu chuẩn Việt Nam và ISO 9000 là các công cụ mà nếu ta thỏa mãn nó đồng nghĩa với chất lượng dịch vụ của ta phù hợp với phần lớn các yêu cầu và mong muốn của khách hàng.

Ngoài ra một số các tác giả có những nghiên cứu như:

Nguyễn Đình Thọ & ctg (2003) kiểm định và điều chỉnh từ thang đo SERVQUAL, RSQS, MLH, xây dựng thang đo chất lượng dịch vụ siêu thị ở Việt Nam, bao gồm 5 thành phần với 20 biến quan sát.

  1. Hà Nam Khánh Giao và Th.S Nguyễn Tấn Vũ (2011), nghiên cứu “Sự thỏa mãn của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ hệ thống siêu thị Vinatex-Mart“. Dùng thang đo RSQS có sự điều chỉnh phù hợp với tình hình Việt Nam và sự hỗ trợ các các công cụ khác như: Phương pháp phân tích độ tin cậy Cronbach alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, cùng với phân tích hồi quy bội được sử dụng với phương tiện hỗ trợ là SPSS 16.

Bên cạnh đó còn nhiều nghiên cứu khác nhằm đo mức độ hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ… tuy nhiên vì sự hiểu biết và kiến thức có hạn nên tác giả chỉ xin lược nêu vài ví dụ nghiên cứu bên trên.

KẾT LUẬN CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung của luận văn bao gồm 4 chương sau đây:

Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng dịch vụ.

Chương 2: Tổng quan về Công ty TNHH MTV Lương thực TP. HCM – Chuỗi cửa hàng Foodcomart và tình hình hoạt động kinh doanh qua các năm.

Chương 3: Đánh giá chất lượng dịch vụ bán lẻ của chuỗi cửa hàng Foodcomart qua khảo sát.

Chương 4: Giải pháp và kiến nghị nâng cao chất lượng dịch vụ bán lẻ của chuỗi cửa hàng Foodcomart.

TI TÀI LIU V MÁY

Hy vọng với chia sẻ mu báo cáo thc tp tt nghip  tại công ty trên của chúng tôi sẽ giúp bạn có thể hoàn thành bài báo cáo thc tp tt nghip của mình được tốt nhất.

Chúc các bạn làm bài báo cáo thc tp thành công!

* BQT TAILIEUMAU.NET - THƯ VIỆN TÀI LIỆU HỌC TẬP THÔNG BÁO:
Mọi thông tin về bài viết và những đóng góp vui lòng xin liên hệ: vancongk8sp@gmail.com hoặc 0948.498.186. Mời bạn thích trang Tailieumau.net – Thư viện báo cáo thực tập! trên Facebook và Dịch vụ viết thuê báo cáo thực tập tốt nghiệp để theo dõi các bài viết mới và cùng thảo luận với mọi người nhé.
Hãy cùng mình xây dựng một thư viện học tập dành cho các bạn sinh viên. BQT xin chân thành cảm ơn

Add Comment