Báo cáo thực tập khác ngôn ngữ trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố

Tailieumau.net xin chia sẻ với các bạn bài báo cáo thực tập khác  Đặc điểm ngôn ngữ giới qua hành vi hỏi trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố để làm mẫu báo cáo thực tập tốt nghiệp.

Trích dẫn lời nói đầu để các bạn tham khảo:

1.  Lý do chọn đề tài

  • Từ xa xưa trong xã hội đã phân chia loài người thành giới nam và giới nữ. Điều này cũng được phản ánh trong ngôn ngữ. Song không phải ngay từ đầu con người đã biết nghiên cứu về ảnh hưởng của giới đến ngôn ngữ. Có thể nói ngôn ngữ và giới là một trong những vấn đề mới mẻ, hấp dẫn và đang được phát triển của ngôn ngữ học xã hội cũng như ngôn ngữ học nhân chủng hiện nay. Giới hay giới tính là một nhân tố xã hội có tác động mạnh mẽ đến nhiều mặt của đời sống con người như nhận thức, thói quen, hành vi ứng xử…đặc biệt là việc sử dụng ngôn ngữ. Một trong những hệ quả của sự tương tác đó là việc tạo nên phong cách ngôn ngữ của mỗi giới. Trong quá trình giao tiếp, ở những lứa tuổi khác nhau, hoàn cảnh, vị trí khác ..thì mỗi giới có một phong cách riêng. Vì thế, luận văn này nghiên cứu đăc điểm ngôn ngữ giới qua hành vi hỏ i cũng là mong mu  ốn góp phần vào nghiên cứu đặc    điểm của loại phong cách ngôn ngữ này.
  • Chọn các tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố làm tư liệu nghiên cứu là vì:
  • Ngô Tất Tố là nhà văn hiện thực xuất sắc của nền văn học Việt Nam, một trong những kiện tướng tiên phong của trào lưu văn học hiện thực phê phán. Chỉ với ba thập kỉ cầm bút, Ngô Tất Tố đã để lại một sự nghiệp sáng tác đồ sộ và có giá trị trên nhiều lĩnh vực như báo chí, dịch thuật…mà đặc biệt là văn học.
  • Tắt đèn là một trong những tác phẩm văn học tiêu biểu nhất của nhà văn Ngô Tất Tố cũng là của nền văn học Việt Nam hiện đại. Đây là một tác phẩm văn học hiện thực phê phán với nội dung nói về cuộc sống khốn khổ của tầng lớp nông dân Việt Nam đầu thế kỉ xx dưới ách đô hộ của thực dân Pháp. Kể từ khi ra đời cho đến nay, Tắt đèn không chỉ hấp dẫn nhiều thế hệ độc giả mà còn thu hút đuợc sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu phê bình.

– Tiểu thuyết Tắt đèn cũng là một trong số không nhiều tác phẩm hiện thực phê phán 1930-1945 đã được đưa vào giảng dạy ở trường trung học cơ sở, với đoạn trích “ tức nước vỡ bờ ”(ngữ văn lớp 8 tập 1). Đặc biệt, tác phẩm Tắt đèn cùng với cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Ngô Tất Tố đã được đưa vào giảng dạy một số trường đại học sư phạm, các trường khoa học xã hội và nhân văn của nước ta.

– Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Tắt đèn, xét ở hai phương diện nôi dung và nghệ thuật, song chưa có công trình nào nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ giới qua hành vi hỏi trong giao tiếp của các nhân vật trong tác phẩm này.

  • Giao tiếp là hoạt động không thể thiếu đối với con người và xã hội loại người. Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ giúp con người trao đổi thông tin, nhằm thực hiện những mục đích về nhận thức, về tình cảm, về hành động….Giao tiếp đi vào mọi mặt của đời sống con người, từ việc thiết lập các mối quan hệ của con người đến việc lao động, sản xuất, đấu tranh, sáng tạo khoa học, nghệ thuật… Giao tiếp làm thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Đối với tác phẩm văn học, giao tiếp là một trong những yếu tố giúp người đọc khám phá được tính cách của các nhân vật, góp phần vào việc tìm hiểu đánh giá nhân vật nói riêng và tác phẩm văn học nói
  • Hỏi là hành vi thường xuyên được sử dụng trong giao tiếp nói chung. Đối với người Viêṭ  Nam, hành vi hỏi được sử dụng với nhiều hiệu lực ở lời khác nhau tạo nên hiệu quả giao tiếp phong . Hành vi hỏi không chỉ đáp ứng nhu cầu thông tin trong cuôc số ng mà  làm cho mố i quan hê ̣giữa những ngườ i giao tiếp thêm hiểu biết lân nhau. Trong tác phẩm văn hoc thi hỏi là một hành vi phổ biến, góp phần thể hiện tính cách , đăc điểm, cuôc sống của nhân vật cũng như góp phần vào sự thành công của tác phẩm nói chung và về ngôn ngữ  nói riêng.

– Với những Lý do trên, đề tài đăc điểm ngôn ngữ giớ i qua hành vi hỏi trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố đã được chọn làm hướng nghiên cứu của luận văn này.

2.  Lịch sử vấn đề

2.1.  Lịch sử nghiên cứu về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới

Những nghiên cứu về ngôn ngữ và giới đã được các nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực như nhân chủng học, sử học, ngôn ngữ học quan tâm từ lâu. Ở trên thế giới, đối với lĩnh vực ngôn ngữ, phải chờ đến đầu thế kỉ XX, những ấn tượng về sự khác biệt giới trong ngôn ngữ mới được dẫn ra một cách cụ thể, có bằng chứng nhờ sự quan sát, khảo cứu của E.Saprir đối với việc sử dụng luân phiên một số âm vị khác nhau giữa nam và nữ của người Yana và O.Jersperson về sự khác biệt trong từ vựng và phong cách của nam và nữ khi giao tiếp bằng tiếng Anh. Nhưng người thực sự mở đường cho nghiên cứu này là R.Lakoff với tác phẩm Language and woman’s place (Ngôn ngữ và vị trí của người phụ nữ trong xã hội), NXB Harper and Row (1975). Trong công trình này, bà đã nghiên cứu mối quan hê ̣giữa ngôn ngữ và giới ở các bình diện cấu trúc – hệ thống (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) và bình diện giao tiếp. Có thể khẳng định rằng R.Lakoff đã mở ra một hướng nghiên cứu mới cho ngôn ngữ học nói chung, ngôn ngữ học xã hội nói riêng. Trên nền tảng nghiên cứu ngôn ngữ và giới, các nghiên cứu sau R.Lakoff, một mặt tiếp thu những nội dung mà tác giả đã nghiên cứu để từ đó phát triển và đưa ra những hướng nghiên cứu  mới về giới. Trong đó, đáng chú ý là những nghiên cứu về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới trong giao tiếp: coi giới là một nhân tố tác động đến giao tiếp. Sau này, tất cả các công trình về ngôn ngữ học xã hội đều có một chương riêng về ngôn ngữ và giới tính.

Ở Việt Nam người đầu tiên đề cập đến ngôn ngữ học xã hội là tác giả Nguyễn Văn Khang với các công trình nghiên cứu như: Ứng xử ngôn ngữ trong giao tiếp gia đình người Việt, Nxb văn hóa Thông tin, 1996; Nguyễn Văn Khang (1999), Sự bộc lộ giới tính trong giao tiếp ngôn ngữ gia đình người  Việt, đã chỉ ra mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới tính trong giao tiếp nói chung và giao tiếp gia đình nói riêng. Trong công trình này, tác giả đã đưa ra những lí giải để khẳng định rằng: “Yếu tố giới tính là sự tồn tại có thực trong giao tiếp ngôn ngữ. Nó tồn tại từ hai chiều: chiều tác động của giới tính đến việc lựa chọn ngôn ngữ để giao tiếp và chiều thông qua giao tiếp thì giới tính được bộc lộ” [26, tr.187]. Trên cơ sở đó, tác giả đã cho ra đời nhiều công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa giới và ngôn ngữ như: Kế hoạch hóa ngôn ngữ Ngôn ngữ học xã hội vĩ mô, Nxb Khoa học xã hội, 2003; Tiếp đó là các công trình như “Kế hoạch hóa ngôn ngữ về chống kì thị giới tính”, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội, 2003. “ Ngôn ngữ học xã hội-những vấn đề cơ bản”, Nxb Khoa học xã hội, 1999; đặc biệt là cuốn Ngôn ngữ học xã hội, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2012. Trong tác phẩm này, tác giả đã dành hẳn một chương để trình bày về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới như nghiên cứu về ngôn ngữ và giới trước Rlakoff, nghiên cứu của Rlakoff và sau Rlakoff. Ngoài ra tác giả còn trình bày những nghiên cứu về kì thị và chống kì thị về giới thể hiện trong ngôn ngữ. Có thể nói, những công trình nghiên cứu trên của tác giả Nguyễn Văn Khang được xem như là một sự khởi đầu cho hàng loạt các nghiên cứu ngôn ngữ và giới ở Việt Nam sau này dưới các góc độ khác nhau.

Tiếp đó đã có nhiều công trình khoa học, luận án, luận văn đã đi theo hướng này như: Vũ Thị Thanh Hương (1999), Giới tính và lịch sự, Ngôn ngữ, số 8, tr. 1-12; Lương Văn Hy (chủ biên) (2000),“Ngôn từ, giới và nhóm xã hội từ thực tiễn tiếng Việt”, Nxb Khoa học xã hội HN; Nguyễn Đức Thắng (2002) “Về giới và ngôi ở những từ xưng hô trong giao tiếp tiếng Việt”, tạp chí ngôn ngữ số 2; Đỗ Thu Lan (2006), Tác động của nhân tố giới tính với việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, Đại học Quốc Gia Hà Nội; Nguyễn Thị Mai Hoa (2010), Đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong hát phường vải Nghệ Tĩnh, ĐH Vinh; Lê Hồng Linh (2010), Mối liên hệ giữa ngôn ngữ và giới tính trong tiếng Việt và tiếng Anh, tạp chí ngôn ngữ và đời sống số 1; Nguyễn Thị Trà My (2011), Tác động của nhân tố giới tính đến sự sử dụng ngôn ngữ và tư duy của người Việt, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội; Hoàng Thị Tưới (2011), Đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong phát ngôn hỏi và hồi đáp hỏi qua tác phẩm của Nam Cao, Đại học Hải Phòng; Phạm Thị Hà (2013), “Đặc điểm ngôn ngữ giới trong giao tiếp tiếng Việt qua hành vi khen và tiếp nhận lời khen”….Đa số các công trình trên đều coi giới tính là một nhân tố xã hội quan trọng khi nghiên cứu về ngôn ngữ, đặc biệt là giới có sự tác động đến giao tiếp ngôn ngữ của người Việt. Những công trình này cung cấp cho chúng tôi thêm những định hướng để triển khai đề tài.

2.2.  Lịch sử nghiên cứ u về hà nh vi hỏi

Ngữ dung hoc xuất hiên trên thế giới từ nửa đầu thế kỉ XX với hàng loạt các nhà nghiên cứu có tên tuổi: J.L.Austin, J.R Searle, JJ Katz, Ballmer… Ở Việt Nam những người mở đường cho ngành ngữ dụng học như Đỗ Hữu Châu (1993, 2001), Nguyễn Đức Dân (1998), Nguyễn Thiện Giáp (2000)…

Sau đó, trên cơ sở lý thuyết của ngữ dụng học đã có nh iều công trình nhiều luận văn, luận án, bài viết nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ cụ thể của tiếng Việt như Vũ Thị Nga, Nguyễn Thị Hoàng Yến, Hà Thị Hải Yến với đề tài về hành vi cam kết, chê, cảm thán; Nguyễn Thị Hoài Linh (2003), Nguyễn Thu Hạnh (2005) khảo sát hành vi ngôn ngữ ” mách” và ” trách”…

Trong nghiên cứ u về các hành vi ngôn ngữ  thì hỏ i là  môt trong nhữnghành vi ngôn ngữ được nhiều người quan tâm, trong đó có các tác giả như: Cao Xuân Hạo, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân, Hoàng Phê, Hồ Lê, Lê Đông, Hoàng Trọng Phê, Trần Thị Thìn, Nguyễn Thị Quy, Nguyễn Đăng Sửu… Tác giả Lê Đông (1996) trong công trình nghiên cứu “Ngữ nghĩa, ngữ dụng của câu hỏi chính danh” đã chỉ rõ mối quan hệ giữa ngữ cảnh và câu hỏi, tiền đề và câu hỏi, tác giả đã phân tích cụ thể một số kiểu loại câu hỏi đặt trong ngữ cảnh  thực. Năm 1991,Giáo sư Cao Xuân Hạo trong công trình “Sơ thảo ngữ pháp chức năng” đã phân tích hiệu lực ngôn trung của câu nghi vấn, từ đó thấy câu nghi vấn không chỉ được dùng để thể hiện hành vi hỏi. Gần đây nhất là tác giả Nguyễn Đăng Sửu (2002) nghiên cứu Câu hỏi tiếng Anh trong sự đối chiếu với tiếng Việt. Sau đó đã có nhiều công trình khoa học, luận án, luận văn đã nghiên cứu về hành vi hỏi như: Phùng Thị Thanh (2000), Phát ngôn hỏi trong hội thoại dạy học ở trường THPT (qua giờ giảng văn và tiếng Việt), luận án thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội. Nguyễn Lê Lương (2006), Đặc điểm ngôn ngữ của nữ giới qua hành vi hỏi ( trên cứ liệu lời thoại nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao trước 1945), luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Vinh…

2.3.  Tình hình nghiên cứu chung về Ngô Tất Tố

Sự nghiệp văn chương của Ngô Tất Tố kéo dài gần 30 năm, từ 1923 đến 1951. Song thành tựu văn chương của ông tập trung chủ yếu trong giai đoạn 1930-1945, với những tác phẩm tiêu biểu như Tắt đèn (1939), lều chõng (1940), và tập phóng sự Việc làng (1940)….

Quá trình nghiên cứu về Ngô Tất Tố kể từ những bài phê bình về tác phẩm Tắt đèn. Mở đầu là bài viết của Vũ Trọng Phụng với nhan đề “Tắt đèn của Ngô Tất Tố”, được đăng trên báo thời vụ số 100, ngày 31-1-1939.Vũ Trọng Phụng đã khẳng định giá trị nhiều mặt của Tắt đèn và hết lòng ngợi ca « Tắt đèn là cuốn tiểu thuyết có luận đề xã hội- điều ấy cố nhiên là hoàn toàn phụng sự dân quê, một áng văn có thể gọi là kiệt tác tòng lai chưa từng thấy mà lại của một tác giả có cái may hơn nhiều nhà văn khác là được sống nhiều ở thôn quê nên có đủ thẩm quyền » [22, tr. 200].

Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, hòa bình lập lại, Tắt đèn của  Ngô Tất Tố đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường. Từ đó tên tuổi và sự nghiệp văn học của Ngô Tất Tố càng thu hút các nhà nghiên cứu, phê bình. Sau khi nhà văn qua đời trên con đường kháng chiến (1954) thì có rất nhiều bài tiếp tục nghiên cứu, giới thiệu về ông như: Ngô Tất Tố của Nguyên Hồng (Tạp chí văn nghệ số 54, tháng 8, năm 1954; Đọc lại việc làng của Bùi Huy Phồn (Tạp chí văn nghệ số 8, tháng 1, năm 1958) … đặc biệt là toàn tập Ngô Tất Tố  (1996) do giáo sư Phan Cư Đệ tuyển chọn và giới thiệu.

Bước sang thời kỳ đổi mới, vị trí của Ngô Tất Tố vẫn được khẳng định trên văn đàn. Các bài báo như: Ngô Tất Tố nhà văn hóa lỗi lạc của Hoài Việt; Ngô Tất Tố trong sự nghiệp đổi mới hôm nay của Phan Cư Đệ…đã khẳng định vai trò của nhà văn đối với quá khứ, hiện tại và tương lai. Đến năm 2000, nhà xuất bản Giáo dục đã cho in cuốn Ngô Tất Tố về tác giả tác phẩm do hai nhà nghiên cứu Mai Hương và Tôn Phương Lan tuyển chọn và giới thiệu. Đây là công trình tập hợp đầy đủ các bài viết, bài nghiên cứu, hồi ức, tưởng niệm của bạn bè, đồng nghiệp, người thân về Ngô tất Tố.

Như vậy, hơn bảy thập kỷ trôi qua, kể từ bài viết của Vũ Trọng Phụng về tiểu thuyết Tắt đèn (1939) đến nay, đã có hàng trăm bài viết, công trình nghiên  cứu về Ngô Tất Tố. Hầu hết các công trình nghiên cứu đề khẳng định Ngô Tất Tố là cây bút xuất sắc của dòng văn học hiện thực Việt Nam trước cách mạng và là một nhà văn có vị trí quan trọng trong nền văn học Việt nam hiện đại.

Đối với tác phẩm Tắt đèn thì phần lớn các công trình nghiên cứu đều tập trung khai thác ở giá trị nội dung, nghệ thuật mà ít nghiên cứu về phương diện ngôn ngữ. Do đó, chúng tôi mạnh dạn đi vào nghiên cứu về hành vi hỏi trong tác phẩm Tắt đèn dưới góc độ giới.

3.  Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1.  Mục đích nghiên cứu

Thông qua khảo sát đăc điểm ngôn ngữ  giới  qua hành vi  hỏi trong  tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố góp phần bổ sung, làm rõ hơn lý thuyết về giới trong giao tiếp ngôn ngữ tiếng Việt. Kết quả nghiên cứu phục vụ cho việc tìm hiểu sâu hơn về tác phẩm văn học, đặc biệt trong giao tiếp của các nhân vật dưới góc độ giới. Ngoài ra nó có thể làm tài liệu cho các ngành khoa học  nghiên cứu về con người, trong đó có sự tác động của yếu tố giới.

3.2.  Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Hệ thống hoá những nội dung lý thuyết cơ bản liên quan đến đề tài  đó là lý thuyết về giới trong ngôn ngữ học xã hội; lý thuyết về giao tiếp, về hôị thoại, về hành vi ngôn ngữ  và  hành vi hỏi.
  • Khảo sát đăc điểm ngôn ngữ giới qua hành vi hỏi  ở giao tiếp gia  đình,trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất tố.
  • Khảo sát đăc điểm ngôn ngữ giớ i qua hà nh vi hỏ i  ở giao tiếp xã  hội, trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố.
  • So sánh, đối chiếu rồ i rút ra những kết luận về đăc điểm ngôn ngữ giới qua hành vi hỏi trong giao tiếp gia đình và xã hội ở tác phẩm này.

4.  Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp cơ bản sau:

4.1.  Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại

Sau khi khảo sát toàn bộ tiêu thuyết Tắt đèn, chúng tôi tiến hành khảo sát, thống kê, phân loại các cặp giao tiếp, các hành vi hỏi trực tiếp và gián tiếp.

4.2.  Phương pháp phân tích diễn ngôn

Bằng phương pháp này, chúng tôi tiến hành phân tích các cuộc giao tiếp, các hành vi hỏi của các nhân vật trong tác phẩm Tắt đèn.

4.3.  Phương pháp phân tích – tổng hợp

Từ sự phân loại thống kê, chúng tôi phân tích ngôn ngữ giao tiếp của   các nhân vật qua hành vi hỏ i , nhìn từ góc độ giới. Qua đó tổng hợp khái quát thành những đặc điểm phong cách ngôn ngữ giới ở giao tiếp trong tác phẩm  Tắt đèn của Ngô Tất Tố.

4.4.  Phương pháp so sánh – đối chiếu

Sau khi khảo sát, phân tích, chúng tôi tiến hành so sánh đối chiếu hành vi hỏi ở các phạm trù giao tiếp để tìm ra sự tương đồng, khác biệt về đặc điểm ngôn ngữ giới trong tác phẩm Tắt đèn.

5.  Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

5.1.  Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đăc điểm ngôn ngữ giới qua hành vi hỏi trong tác phẩm Tắt đèn của nhà văn Ngô Tất Tố.

5.2.  Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố, xuất bản năm 2013 (tái bản), gồm 27 chương, 279 trang, khổ 13 x 19 cm, Nxb Văn Học, Hà nội.

6.  Đóng góp của luận văn

6.1.  Về lí luận

Luận văn góp phần bổ sung một số vấn đề lí luận về giới qua hành vi hỏ i trong giao tiếp tiếng Việt. Luận văn cũng cung cấp thêm lý thuyết khi tìm hiểu, nghiên cứu tác phẩm văn học, đặc biệt là dưới gốc độ giới. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu này còn có thể là cơ sở cho các lĩnh vực nghiên cứu khác về con người như tâm lí học, nhân chủng học…

6.2.  Về thực tiễn

Với việc tìm hiểu những đặc điểm cơ bản về ngôn ngữ trong tác phẩm  Tắt đèn nhìn từ góc độ giới góp phần vào việc tìm hiểu giá trị của tác phẩm Tắt đèn nói riêng và các tác phẩm văn học nói chung.

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho giáo viên và học sinh trong nhà trường, đặc biệt dưới góc nhìn của ngôn ngữ học xă hội, khi cần tìm hiểu tác phẩm văn chương. Ngoài ra, luận văn có thể được sử dụng vào việc biên soạn tài li ệu ngữ văn, phục vụ cho hoạt động dạy và học trong nhà trường.

7.  Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 03 chương:

Chương 1. Cơ sở lý thuyết

Chương 2. Đặc điểm ngôn ng ữ giớ i qua hành vi hỏ i ở giao tiếp gia đình trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố

Chương 3. Đặc điểm giới ngôn ng ữ qua hành vi hỏ i ở giao tiếp xã hội trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố

TẢI TÀI LIỆU VỀ MÁY

Hy vọng với chia sẻ báo cáo thực tập tốt nghiệp tại công ty trên của chúng tôi sẽ giúp bạn có thể hoàn thành bài báo cáo thực tập tốt nghiệp của mình được tốt nhất.

Chúc các bạn làm bài báo cáo thực tập thành công!

Bình luận với Facebook

* BQT TAILIEUMAU.NET - THƯ VIỆN TÀI LIỆU HỌC TẬP THÔNG BÁO:
Mọi thông tin về bài viết và những đóng góp vui lòng xin liên hệ: vancongk8sp@gmail.com hoặc 0948.498.186. Mời bạn thích trang Tailieumau.net – Thư viện báo cáo thực tập! trên Facebook và Dịch vụ viết thuê báo cáo thực tập tốt nghiệp để theo dõi các bài viết mới và cùng thảo luận với mọi người nhé.
Hãy cùng mình xây dựng một thư viện học tập dành cho các bạn sinh viên. BQT xin chân thành cảm ơn